Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

I. Mục tiêu của kiểm toán hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Để đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam nói chung và hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói riêng trong điều kiện có nhiều biến động về kinh tế, chính trị trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy để kiểm soát, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động thì đòi hỏi cần có một hệ thống kiểm toán nội bộ để đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh nói chung và nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối nói riêng. Nên việc đặt ra vấn đề kiểm toán hoạt động kinh doanh ngoại tệ nhằm:
- Đánh giá việc tuân thủ các quy định, quy trình, quy chế hoạt động kinh doanh ngoại tệ hiện hành.
- Đánh giá các chính sách, thủ tục kiểm soát trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ có đảm bảo tính phù hợp, tính hiệu quả không.
- Đánh giá tính đầy đủ, nghiêm túc, đúng đắn trong quá trình thực hiện nghiệp vụ để đảm bảo những nghiệp vụ đã phát sinh phải được ghi nhận, phản ánh đầy đủ trên báo cáo tài chính (hạch toán nội, ngoại bảng).
- Đánh giá các phương tiện, công cụ đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
- Đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong dây chuyền, bao gồm cả yêu cầu về mô hình tổ chức, nguồn nhân lực.
- Đánh giá, phân tích khả năng xẩy ra rủi ro của nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, các biện pháp quản lý rủi ro trong kinh doanh và xác định mức độ ảnh hưởng của nghiệp vụ này đến kết quả hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống.
- Đề xuất, khuyến nghị và tư vấn trên cơ sở các phát hiện trong quá trình kiểm toán để Ban lãnh đạo có cơ sở tin cậy trong việc quản lý hoạt động kinh doanh ngoại tệ, hướng tới hiệu quả, chất lượng, phù hợp với các quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế.
kinh doanh tiền tệ
II. Phạm vi áp dung: 
Được thực hiện đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở chính NHTM và các chi nhánh được phép kinh doanh ngoại tệ.

III. Đối tượng kiểm toán kinh doanh ngoại tệ:
- Tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Các đơn vị và người trực tiếp thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

IV. Đánh giá rủi ro:
Trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng đều chứa đựng yếu tố rủi ro, mà hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ thì yếu tố rủi ro lại càng cao. Chính vì vậy, với đặc thù là kinh doanh trên các đồng tiền của các nước  trong khi không kiểm soát được các chính sách tiền tệ của các nước đó nên kinh doanh ngoại tệ luôn là một nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro lớn. Vì vậy nhiệm vụ của ngân hàng là phải chủ động tìm hiểu và đưa ra các biện pháp để kiểm soát và hạn chế rủi ro ứng với mỗi mức lợi nhuận mong muốn trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ. (rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ này rất phức tạp và ngay cả khi sử dụng các nghiệp vụ khác chống đỡ rủi ro thì bản thân các nghiệp vụ ấy cũng xuất hiện rủi ro.)
Lợi ích mang lại từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ rất lớn song yếu tố rủi ro cũng đi cùng chiều với nó và rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ xuất hiện ngay sau khi giao dịch được thỏa thuận.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ là do sự giảm giá tồn kho ngoại tệ hoặc do đối tác không thực hiện thanh toán theo thỏa thuận được ký kết.
Các loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngoại tệ: rủi ro tín dụng, rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động, rủi ro kiểm soát. Các loại rủi ro này, có thể là nguyên nhân hoặcà hệ quả đối với với loại rủi ro khác như: rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng... và chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Và hệ quả lớn nhất là có khả năng làm cho Ngân hàng không thực hiện mục tiêu chiến lược đề ra.
- Rủi ro tín dụng: nguyên nhân xuất hiện rủi ro này xuất phát từ rủi ro do đối tác (có thể từ rủi ro do lệch múi giờ) và rủi ro do nguyên nhân chính trị.
+ Rủi ro đối tác: là rủi ro mà các đối tác (ngân hàng, khách hàng) không thể hoặc không muốn hoàn thành nghĩa vụ khi giao dịch kết thúc.
+ Rủi ro chính trị: bao gồm rủi ro quốc gia, rủi ro chủ quyền và rủi ro chuyển tiền.
~ Rủi ro quốc gia, rủi ro chủ quyền: do chiến tranh, nội chiến, thiên tai, chính sách (vào bất cứ thời gian nào, mỗi nước đều có quyền thực hiện chính sách đóng cửa đối với giao dịch hối đoái) ...
~ Rủi ro chuyển tiền: do nhà nước ngăn cấm chuyển vốn hoặc chuyển đổi sang các đồng tiền khác vì lý do kinh tế.
- Rủi ro tài chính: bao gồm rủi ro về tỷ giá và rủi ro lãi suất.
+ Rủi ro tỷ giá: là rủi ro từ trạng thái không cân bằng, không có bảo hiểm do sự biến động tỷ giá.
+ Rủi ro lãi suất: có thể xuất hiện khi trạng thái kỳ hạn không cân bằng hoặc khi trạng thái ròng cân bằng nhưng thời điểm đáo hạn của hợp đồng mua và bán không khớp nhau
- Rủi ro hoạt động: rủi ro do tổ chức, sử dụng nhân lực, hỏng hóc máy móc, mất điện.
- Rủi ro kiểm soát : do các báo cáo chưa được lập đầy đủ hoặc thực hiện chưa kịp thời cho các cấp quản lý.
V. Phương pháp kiểm toán 
 Phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: Nghiên cứu tổng thể cơ cấu tổ chức của bộ phận kinh doanh ngoại tệ, có thực hiện yêu cầu “phân tách chức năng” hay không? Sử dụng bảng lưu đồ và bảng mô tả nghiệp vụ để mô tả cơ cấu kiểm soát nội bộ hiện hành và các thủ tục kiểm soát chủ yếu; Sử dụng phương pháp kiểm toán hệ thống và các thử nghiệm kiểm toán để đánh giá những điểm mạnh hay yếu của kiểm soát nội bộ trong khi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh; Thực hiện việc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng bằng các bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ qua đó đánh giá các rủi ro có thể xẩy ra.
Việc kiểm toán có thể được tiến hành theo hai cách: thử nghiệm theo thủ tục và thử nghiệm trên chứng từ, hồ sơ.
+ Thử nghiệm theo thủ tục cho phép kiểm toán viên theo dõi được việc thực hiện quy trình, đồng thời đánh giá hiệu quả của kiểm soát nội bộ.
+ Thử nghiệm trên chứng từ, hồ sơ là việc kiểm toán viên theo dõi một nghiệp vụ từ khi bắt đầu đến khi kết thúc các chứng từ, hồ sơ.
 Thực hiện các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết theo từng nội dung kiểm toán cụ thể.

VI. Nội dung kiểm toán
- Xem xét việc thực hiện quy trình hoạt động kinh doanh ngoại tệ như thế nào? Sự phân tách chức năng về tổ chức cũng như nhiệm vụ giữa Bộ phận Giao dịch (front office), Bộ phận Giám sát quản lý rủi ro (middle office), Bộ phận Xử lý sau giao dịch (Back office) có được thiết lập không? Các chốt kiểm soát được cài đặt như thế nào? Trong mọi trường hợp, Bộ phận Giao dịch phải hoạt động độc lập với Bộ phận xử lý (gồm Bộ phận thanh toán ngoại tệ và hạch toán giao dịch ngoại tệ).
- Các giới hạn kinh doanh đối với đối tác: Giới hạn giao dịch trong ngày, giới hạn giao dịch qua đêm (do các sự kiện chính trị và kinh tế xảy ra sau giờ làm việc của từng nước có ảnh hưởng đến tỷ giá); Giới hạn giao dịch (hạn mức giao dịch, giới hạn lỗ...) đối với nhân viên giao dịch; Giới hạn tổng mức trạng thái, giới hạn trạng thái ngoại tệ cuối ngày, giới hạn trạng thái cho từng giao dịch viên (dealer)...; Giới hạn biên độ niêm yết tỷ giá: quy định biên độ niêm yết tỷ giá mua bán ngoại tệ tối thiểu so với giá thị trường trên hệ thống cung cấp thông tin đầu ngày nhằm đảm bảo an toàn khi thị trường biến động.
- Giới hạn vật lý: nhằm hạn chế sự xâm nhập của các tác nhân bên ngoài vào hệ thống giao dịch tiền tệ, gây ra các giao dịch ngoài mong muốn của ngân hàng. Khu vực này có thể được trang bị hệ thống khóa thẻ điện tử và hệ thống camera theo dõi và chỉ những người có phận sự hoặc được sự cho phép mới được vào.
- Hệ thống cung cấp thông tin: cập nhật quy định của các quốc gia về hạn chế ngoại hối, biến động của thị trường, cung cấp các thông tin tức thời về tỷ giá, lãi suất hiện đang được giao dịch tại các thị trường trên thế giới; các thông tin kinh tế, tài chính, thời sự, chính trị, …có khả năng tác động đến sự biến động giá cả trên thị trường.
- Hệ thống giao dịch tiền tệ: cho phép các giao dịch viên (Dealer) thực hiện giao dịch trực tuyến qua mạng. Hệ thống này giúp Bộ phận kiểm soát rủi ro có thể kiểm soát hoạt động của Bộ phận giao dịch thông qua hệ thống kiểm tra và phiếu xác nhận giao dịch.
- Có đánh giá xếp hạng và định mức giao dịch cho mỗi đối tác không?
- Hệ thống IT có thiết lập các giới hạn để kiểm soát (tự động kiểm tra hạn mức) không?
- Hệ thống điện thoại phục vụ kinh doanh ngoại tệ có ghi âm được các cuộc hội thoại.
- Các quy định về báo cáo liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.
- Các hoạt động kinh doanh chỉ được thực hiện trong khuôn khổ được quy định. Không được thực hiện giao dịch nếu không được phép trong trường hợp:
+ Không có hạn mức, hoặc
+ Nếu giao dịch sẽ làm vượt hạn mức
- Quy định việc lưu trữ hồ sơ phải đảm bảo tất cả các giao dịch được thể hiện rõ ràng, hợp lý và đầy đủ.
- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hàng năm?
- Quy định về bảo mật những thông tin về đối tác?

0 nhận xét:

Đăng nhận xét